CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG VÀ CHIẾN LƯỢC LÀM TĂNG HIỆU QUẢ CỦA LIỆU PHÁP PRP

1. PRP (Platelet Rich Plasma)

PRP (Platelet Rich Plasma, huyết tương giàu tiểu cầu) là một huyết tương chứa nhiều tiểu cầu, được tách ra khỏi các tế bào máu bằng cách ly tâm máu tự động. PRP vừa được tách ra khỏi máu, bằng trạng thái trước khi đông phải kích hoạt hóa tiểu cầu nhằm làm cho yếu tố tăng trưởng có trong tiểu cầu đi ra khỏi tiểu cầu và trở nên có ích.

Tiểu cầu được sản xuất từ tế bào mẫu tiểu cầu (megakaryocytes) không có nhân, đường kính từ 2~3 m, dày khoảng 1.5 m và kéo dài khoảng 8~ 10 ngày. Một phần ba toàn bộ tiểu cầu của cơ thể được lưu trữ trong lá lách và hai phần ba tồn tại rong máu ngoại vi.

Gần đây, nó được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực lâm sàng khác nhau bắt nguồn từ lĩnh vực thẩm mỹ da, và hiệu quả của PRP đã được chứng minh ở nhiều luận văn, là do số lượng lớn các hoạt chất sinh lý bên trong nó. Các chất hoạt động sinh lý này được chứa trong các hạt lưu trữ nhỏ của tiểu cầu. Có ba loại hạt lưu trữ nhỏ là : hạt , hạt lysosomal và hạt dense, trong đó hạt chứa đa số nhân tố tăng trưởng.

Các yếu tố tăng trưởng có trong hạt bao gồm PDGF (Platelet Derived Growth Factor), TGF- (Transforming Growth Factor- ), VEGF(Vascular Endothelial Growth Factor). EGF(Epithelial Growth Factor), ngoài ra còn có protein kết dính (von Willebrand factor, fibronectin, fibrinogen, vitronectin), yếu tố đông (yếu tố đông máu V. protein S), chất ức chế fibrin, chemokine, v.v.

Hình 25-1 Hạt lưu trữ và các chất hoạt tính sinh học trong tiểu cầu
Hình 25-1 Hạt lưu trữ và các chất hoạt tính sinh học trong tiểu cầu

Các hạt lysosomal lưu trữ nhiều loại enzyme thủy phân. Hạt dense thì có serotonin, ADP (Adenosine diphosphate). ATP (Adenosine triphosphate).v.v. Ngoài ra còn có một số glycoprotein.

(GP, glycoprotein) trên bề mặt của tiểu cầu, đóng vai trò quan trọng trong cầm máu nguyên phát.

PRP chứa 94% tiểu cầu, 5% hồng cầu và 1% tế bào bạch cầu. Để có hiệu quả lâm sàng, một số lượng tiểu cầu nhất định phải có trong PRP. Thông thường nó được biết là 1 triệu / pL hoặc gấp 4-7 lần số lượng tiểu cầu bình thường.

Thông qua việc kích hoạt hóa bằng cách thêm autothrombin hoặc Ca++ vào PRP đậm đặc sẽ giải phóng nhiều yếu tố tăng trưởng hoặc cytokine trong tiểu cầu, việc này làm Thúc đẩy quá trình làm lành vết thương và tái tạo mô, đây là nguyên lý trọng tâm của điều trị PRP. (Hình 25-2).

Hình 25-2 Kích hoạt hóa và tác động của PRP
Hình 25-2 Kích hoạt hóa và tác động của PRP

2. Sản xuất và kích hoạt PRP

Trong sản xuất PRP, tùy vào số lần ly tâm mà ta có phương pháp một lần và phương pháp 2 lần. Thông thường, phương pháp 2 lần được sử dụng nhiều hơn để tập trung tiểu cầu. nhưng phương pháp 1 lần gần đây đã được sử dụng rất nhiều vì một loạt các bộ dụng cụ PRP đơn giản được phát hành.

Thủ tục 2 lần thông thường liên quan đến lấy máu —*• Ly tâm lần 1 (1500~1700rpm, 5-7 phút) —> Lv tâm lần thứ hai bằng cách tách các lớp còn lại trừ lớp tế bào hồng cầu đáy (3200rpm, 10 phút) —* Loại bỏ lớp ppp của tầng trên (Platelet Poor Plasma) và thu hồi lớp PRP của tầng dưới —> Thứ tự là trước khi sử dụng phải thêm activator và tiêm vào phần áp dụng. Không phải nồng độ tiểu cầu càng cao thì hiệu quả cũng tỷ lệ thuận mà nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ trên một mức nhất định là đủ. do khả năng bị ô nhiễm huyết tương và sự thuận tiện của việc tách tiểu cầu trong phương pháp 2 lần nên phương pháp 1 lần được sử dụng rộng rãi tại các bệnh viện. Ngoài ra. nhiều bộ dụng cụ khác gồm có những thứ như sau: (Hình 25-5).

Khi PRP đã sẵn sàng, nó sẽ phải thông qua quá trình kích hoạt (activation) trước khi áp dụng cho khu vực bị ảnh hưởng. Cũng có một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng ta có thể sử dụng ngay lập tức mà không cần kích hoạt, tuy nhiên cần có một quy trình kích hoạt để giải phóng hiệu quả các cytokine khác nhau trong tiểu cầu. Autothrombin hoặc calcium được sử dụng để kích hoạt tiểu cầu trong trường hợp autothrombin, phải lấy máu riêng và việc sản xuất mất 30 phút trở lên nên calcium thường được sử dụng.

Hình 25-3 Bộ sản phẩm PRP đang được bán ngoài thị trường
Hình 25-3 Bộ sản phẩm PRP đang được bán ngoài thị trường

Trường hợp calcium, sử dụng calcium gluconate rất dễ sử dụng (hình 25-4), Ngay trước sử dụng, trộn 1/7-1/10 dung lượng PRP đã được chuẩn bị rồi sử dụng.

Một số bộ dụng cụ PRP trên thị trường có phương pháp vật lý để kích hoạt PRP, được giới thiệu ngắn gọn trong hình ảnh (Hình 25-5). Để sử dụng PRP hiệu quả, PRP nên được sử dụng trong vòng 8 giờ ở nhiệt độ phòng và PRP được kích hoạt nên được sử dụng trong vòng 45 phút.

Xem thêm

OXY DẠNG HOẠT ĐỘNG (ROS) VÀ SỰ LÃO HÓA

PHƯƠNG PHÁP VÀ HIỆU QUẢ CỦA TIÊM CẤP ẨM CĂNG BÓNG DA

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *