Hiểu và ứng dụng hiệu quả kỹ thuật tiêm dưỡng chất chất chống oxy hóa giúp cải thiện da

Tiêm dưỡng chất tĩnh mạch được ứng dụng trong các lĩnh vực lâm sàng khác nhau cho các mục đích khác nhau nhưng nó mang lại sự cải thiện và hài lòng khi cho kết quả điều trị cụ thể hoặc cải thiện sức khỏe. Phù hợp với tiêu chí này chúng ta có nhiều loại dưỡng chất tiêm đã được phát triển, và dự kiến sẽ được phát triển nhiều hơn nữa. Trong số tất cả các chất tiêm dưỡng chất trên thị trường, người ta cho rằng ít nhất nó có vai trò sung dinh dưỡng, hay điều trị liên quan đến lĩnh vực y tế được xác định cụ thể. Tiểu mục của tôi trong quyển sách này đề cập đến các sản phẩm dưỡng chất liên quan đến lĩnh vực da liễu thẩm mỹ.

Hiện nay, chức năng quan trọng nhất của tiêm dưỡng chất là chức năng chống oxy hóa. Đặc biệt là đối với da, chức năng chống oxy hóa có thể được ứng dụng làm phương án điều trị quan trọng. Trong chương này, các chất tiêm chống oxy hóa quan trọng trong ứng dụng da sẽ được giới thiệu tóm tắt ngắn gọn dễ hiểu từ những ứng dụng lâm sàng.

Vitamin c

Vitamin c lần đầu tiên được phát hiện bởi nhà hóa học người Anh Hopkins F.G. vào năm 1929 và cấu trúc hóa học của nó được hoàn thành vào năm 1932 bởi một người Anh khác là Hasworth w. N. Và Hasworth sau đó đã giành giải thưởng Nobel năm 1937. Tên bản đầu của vitamin c là “axit ascorbic”, một từ ghép của ‘a + scurvy’. Nói cách khác, nó có nghĩa là ‘các chất ngăn ngừa bệnh scurvy’ hay còn gọi là bệnh scorbut.

Vitamin c có thể được tổng hợp từ động vật. Sau 5 giai đoạn của quá trình enzyme trong glucose trong cơ thể, nguồn năng lượng bản đầu biến mất và nó được chuyển đổi thành vitamin c dưới dạng chất chống oxy hóa. Tuy nhiên, con người không có enzyme L gulonolactone oxyase, loại hoạt động ở giai đoạn thứ tư vì vậy không thể sản xuất vitamin c. Một số loài động vật không thể tự tổng hợp vitamin c tiêu biểu nhất là chuột lang (guinea pig), một số loài linh trưởng bậc cao và một số loài chim. Hầu hết các động vật khác có thể tự tổng hợp vitamin c. Do đó, ở những loài động vật này, vitamin c thường được phân loại là hormone chứ không phải nhóm vitamin.

Vitamin c có cấu trúc hóa học tương tự glucose, do đó có khi đo đường huyết ngay sau khi tiêm vitamin c cho kết quả dương tính giả, được xác định không chính xác là tăng đường huyết, có khi có cả trường hợp máy đo đường huyết không thể phân biệt giữa glucose và vitamin c.

Hơn thể nữa trên bề mặt tế bào ung thư, các kênh glucose gọi là GLUT (Glucose Transporter) thu hút glucose cao hơn nhiều so với các tế bào thông thường. GLUT không phân biệt bản chất hóa học giữa glucose và vitamin c. Do đó, khi một lượng lớn herpes vitamin c xung quanh các tế bào ung thư, các tế bào ung thư sẽ rút vitamin c hoặc vitamin c bị oxy hóa thông qua GLUT, và cuối cùng bản thân các tế bào ung thư rơi vào tình trạng không được cung cấp nguồn năng lượng. Theo thời gian, vitamin c bị oxy hóa, tạo ra hydro peroxide (H202), một trong những gốc tự do trong và xung quanh các tế bào ung thư. Cuối cùng, hydro peroxide (H202) làm cho các tế bào ung thư bị tổn thương và oxy hóa. (Hình 6-1). (Qi Chen et al. Pharmacologic ascorbic acid concentrations selectively kill cancer cells: Action as a pro-drug to deliver hydrogen peroxide to tissues. PNAS September 20, 2005, 102(38) 13604-13609).

Vitamin c là L-ascorbic acid, ascorbic radical quá trình oxy hóa dehydroascorbic

Hình-6-1 Cấu trúc hóa học của Glucose và Vitamin C
Hình-6-1 Cấu trúc hóa học của Glucose và Vitamin C

 

Hình 6-2 Phản ứng oxi hóa khử và quá trình phát thải của vitamin C
Hình 6-2 Phản ứng oxi hóa khử và quá trình phát thải của vitamin C

Nó được chia làm 3 hình thái , phản ứng oxy hóa và chống oxy hóa cũng có thể đảo ngược. Vitamin c dễ bị oxy hóa bởi không khí ẩm, nhiệt và ánh sáng. Ngoài ra, vitamin c bị oxy hóa được chuyển đổi thành axit oxalic trong quá trình bài tiết, điều này có nhược điểm là có thể gây sỏi thận vì canxi oxalate stone được hình thành do khả năng liên kết tốt với canxi. Nhưng từ một quan điểm khác, nó cùng có khả năng phục hồi tốt chức năng nội mô mạch máu bằng cách thải loại canxi trong thành mạch máu theo (Ammar w. et ah, Effect of vitamin c on endothelial function in health and disease. Atherosclerosis 235; 9- 20. 2014) . Ngoài ra còn có một lý thuyết cho rằng nếu bạn cung cấp vitamin c qua dạng dịch truyền, có rất nhiều nước được thải qua thận có thể giúp ngăn ngừa sỏi. Trong trường hợp của tôi, trong hơn 3 năm sử dụng không có một bệnh nào sử dụng vitamin c mà bị tác dụng phụ do sỏi thận thậm chí có một bệnh nhân ung thư cũng không gặp phải. Hình 6-2

Liều vitamin c khuyến cáo hàng ngày là 1OOmg cho người lớn. Và chúng ta chuyển đổi nó từ các loại thực phẩm chúng ta dung nạp vào cơ thể như các loại rau hoặc trái cây như chúng ta thường biết (Hình 6-3). Vì vậy, 2 hoặc 3 quả cam hay quả quýt nhỏ có thể cung cấp đủ hàm lượng được khuyến nghị hàng ngày. Tuy nhiên, thật đúng khi nghĩ rằng khái niệm về hàm lượng khuyến nghị hàng ngày là số tối thiểu để bệnh thiếu hụt vitamin c (scurvy) không xảy ra ở người bình thường. Tuy nhiên, lượng vitamin c cần thiết thay đổi đáng kể tùy thuộc vào sự khác biệt tình trạng thể chất, bệnh lý của mỗi cá nhân.

Hình-6-3 Hàm lượng vitamin C của các loại rau hoặc trái cây điển hình trên 100g
Hình-6-3 Hàm lượng vitamin C của các loại rau hoặc trái cây điển hình trên 100g

Do đó, vitamin c theo quan điểm của bác sĩ y khoa đều cân nhắc đưa ra khuyên nghị về nhu cầu dinh dưỡng (TDA, Therapeutic Daily Allowance) hợp lý. Theo chuyên gia Robert Cathcart MD ông đã dùng dung nạp ruột (bowel tolerance) để định lượng liều vitamin c ở mức trước khi xảy ra vấn đề cho đường một như tiêu chảy. Cathcart cho biêt, lượng cần thiết trong điều kiện bình thường chỉ khoảng 3 ~ 4g, nhiều nhất là lOOg hoặc nhiều hơn tùy theo bệnh. Các bác sĩ chuyên về y học dinh dưỡng lâm sàng thường khuyên dùng 3 đến 6 gram vitamin c mỗi ngày.

Các chỉ định của vitamin c khá rộng. Đầu tiên, đó là chất chống oxy hóa và giúp tăng cường miễn dịch bao gồm giảm mệt moi, chống lão hóa, chống vi rút và cải thiện chức năng gan. Thứ hai, nó hoạt động như một thành phần của collagen để tăng cường các mô liên kết khác nhau. Thứ ba, việc lọc thải canxi trên thành mạch máu, có thể giúp ngăn ngừa các bệnh về mạch máu như xơ vữa động mạch và lưu thông máu. Thứ tư, nó rất hữu ích trong việc điều trị các bệnh ngoài da và chữa lành vết thương. Ngoài ra, ngộ độc kim loại nặng, bệnh thoái hóa hệ thần kinh, vô sinh cũng hữu ích ít nhiều. Một trong những sự gia tăng đáng chú ý nhất trong những năm gần đây là lĩnh vực quản lý chăm sóc bệnh nhân ung thư.

Liệu pháp tiêm vitamin c liều cao làm tăng kỳ vọng về hiệu quả điều trị hơn bởi vì không giống như vitamin c cho liều dung nạp thông thường, tất cả các liều đều được hấp thụ vào máu. Nhìn chung, việc sử dụng 5-30g vitamin c chủ yếu được chỉ định là chất chống oxy hóa (chống lão hóa, giảm mệt mơi. tăng cường sức khỏe, v.v..Mặt khác, với liều 50-100g có mục đích là gây ra hoại tử tế bào ung thư thông qua vitamin c bị oxy hóa bên cạnh tác dụng của nó như một chất chất thúc đẩy oxy hóa thúc ức chế các hệ thống chống oxy hóa (pro-oxidants).

Hue Riodan (MD. 1932 ~ 2005), người đã sử dụng vitamin c liều cao làm chất chống oxy hóa để quản lý hỗ trợ điều trị bệnh nhân ung thư, ở Bệnh viện Riodan ở Kansas Hoa Kỳ, Vitamin c liều cao được sử dụng để điều trị một số lượng đáng kể những bệnh nhân ung thư. Năm 2009 tại Bệnh viện Riodan qua cuộc nghiên cứu và kiểm trả đã tiết lộ rằng có thể gây hoại tử tế bào ung thư khi Thúc đẩy khi nồng độ vitamin c trong máu trên 400mg/dL, và dựa trên những kết quả này, một công thức để ước tính nồng độ vitamin c trong máu được phát triển – L. J. Hoffer et al. Phase I clinical trial of IV ascorbic acid in advanced malignancy. Annals of Oncology doi (10); 1093, 2008).

Khi sử dụng Vitamin c chúng ta có thể pha với nước muối sinh lý hoặc glucose, về cơ bản hiện tượng đau khi tiêm dưỡng chất đường mạch máu đều đa phần nguyên nhân chính là do nồng độ (osmol). Do đó, nên sử dụng tối đa 10g (20 mL) vitamin c cho mỗi 100 ml nước muối hoặc glucose. Nếu bạn muốn sử dụng 20g vitamin c, bạn nên sử dụng ít nhất 200mL dung dịch pha tiêm. Nhưng trường hợp bạn muốn dùng khoảng 30g thì tốt nhất nên pha với nước cất pha tiêm.

Vì lý do là chúng ta tiêm vitamin c pha như thế nó sẽ ở dạng axit Na-ascorbic. do đó khi sử dụng 30g hoặc 40g vitamin c hòa tan trong 500ml dung dịch nước muối có thể dẫn đến tăng lượng Na + tuyệt đối, dẫn đến cứng mạch và các tác dụng phụ khác của Na + . Chúng ta có một ý tương giải pháp là pha thêm cùng một lượng nhỏ magiê (magnesium)

Khi bắt đầu điều trị với vitamin c liều cao cho khách hàng, chỉ nên dùng khoảng 10g hoặc 20g được tiên lượng là đủ có tác dụng chống oxy hóa an toàn và hiệu quả. Một công thức (protocol) sử dụng vitamin c liều cao 10g và 20g trị liệu như được trình bày dưới đây:

IVC 1Og = N/S 250mL, Vitamin c 1 Og, B-com 0.5 A, 10% Mg- 2~3mL, Ca-2~3mL “I VC 20g = N/S 250mL, Vitamin c 20g, B- com 0.5A, 10% Mg-3~5mL, Ca-3~5mL

** Mg = 10% magnesium sulfate, Ca = calcium gluconate

Tiêm Lipoic Acid

Axit lipoic (LA) giống như axit thioctic (thioctic acid) và là một thành phần được phê duyệt để điều trị bổ trợ cho bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường, về cơ bản nó có 2 hình thái loại R và loại s cùng tồn tại nhưng chỉ có loại R là cần thiết trong cơ thể người. (I lình 6-4).

Không giống như các chất chống oxy hóa khác, axit Lipoic bị oxy hóa. Sau khi axil lipoic được vào tiêm nội mạch, nó ngay lập tức xâm nhập vào nội bào (1CF) và kết hợp với hai hydrogens để tạo thành axit dihydrolipoic (DHLA). DHLA ra khởi tế bào và hoạt động như một chất chống oxy hóa. Tuv nhiên, đúng ra bản thân axit lipoic hoạt động như một chất chống oxy hóa cho ca hai dạng chất long oxy hóa (LA) và khử (DHLA). (Hình 6-5).

Hình 6-4 Cấu trúc hóa hoc của acid lipoic
Hình 6-4 Cấu trúc hóa hoc của acid lipoic
Hình 6-5 Sự sản sinh và di chuyển của DHLA dihydrolipoic acid
Hình 6-5 Sự sản sinh và di chuyển của DHLA dihydrolipoic acid

Axit lipoic khi được sử dụng bằng đường uống, được hấp thụ nhiều hơn khi uống lúc bụng đói hơn là uống sau bữa ăn. về cơ bản uống lúc bụng đói, tỷ lệ hấp thụ trung bình 30-40%. Chu kỳ bán rã khi hấp thụ vào máu là khoảng 30 phút. Nồng độ trong huyết tương đạt cực đại trong vòng 1 giờ. Axit lipoic là một chất chống oxy hóa rất mạnh, hoạt động cả trên các tế bào kỵ nước.

Chức năng sinh lý của axit lipoic có thể được phân thành hai loại chủ yếu. Đầu tiên là tham gia vào quá trình chuyển hóa năng lượng và phục hồi hệ thần kinh. Axit lipoic về cơ bản là một trong những phức hợp Pyruvate Dehydrogenase (PDC) – Pyruvate Dehydrogenase Complex. PDC bao gồm vitamin B1, B2, B3, B5 và axit lipoic. Các PDC này được sử dụng làm chất dinh dưỡng liên quan đến sản xuất ATP. Axit lipoic cũng cải thiện điều chỉnh tính nhạy cảm với insulin và có liên quan đến chức năng nội mô mạch máu và phục hồi bệnh thần kinh ngoại biên ở bệnh nhân tiểu đường.

Thứ hai là chất siêu chống oxy hóa (super anti-oxidant). Không giống như các chất chống oxy hóa khác, thể oxy hóa (LA) và thể chống oxy hóa (DHLA) đều hoạt động như chất chống oxy hóa. Đặc biệt, nó có liên quan đến các hoạt động chống oxy hóa cứa các nhóm peroxide cỏ độc tính tế bào và nhóm hydroxyl mạnh với tính đột biến mạnh (Hình 6-6). Thật thú vị, nó được sử dụng là chất chống oxy hóa khác khi chúng bị oxy hóa. Ngoài ra, nó còn giúp ức chế stress , oxy hóa qua trung gian đồng và sắt và thúc đẩy quá trình tổng hợp glutathione. Axit lipoic dưới dạng tiêm đã được sử dụng rộng rãi hơn tại Hàn Quốc kể từ khi nó được thông qua và giấy phép tại Nhật Bản. Một ống thường bao gồm 25mg. Thông thường, dùng 1 đến 3 ống được pha loãng trong 100 ml dung dịch muối sinh lý hoặc glucose. Nó được biết là hữu ích trong trường hợp lao động chân tay cường độ cao, hội chúng Leigh (rối loạn thần kinh tế bào bán cấp), hội chúng nghiện streptomycin, nghiện kanamycin và giảm thính lực do nghề nghiệp.

Hình 6-6 Detoxification Pathway of Antioxidants
Hình 6-6 Detoxification Pathway of Antioxidants

Chỉ định lâm sàng của axit lipoic được sử dụng để cải thiện độ nhạy cảm của insulin và tăng sử dụng glucose ở bệnh nhân tiểu đường, và đặc biệt, để cải thiện chức năng mạch máu và các triệu chứng thần kinh của bệnh nhân tiểu đường. Nó cũng được sử dụng để cải thiện các triệu chứng ở bệnh nhân mắc bệnh đa xơ cứng bằng cách ức chế sự di chuyển của các tế bào viêm đến hệ thống thần kinh. Gần đây, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng axit lipoic có thể giúp cải thiện khả năng nhận thức của bệnh nhân mắc chứng mất trí nhở nhẹ hoặc bệnh Alzheimer. Thật sự Axit lipoic có thể ứng dụng ở nhiều lĩnh vục lâm sàng khác nhau. Truyền quá nhiều khi sử dụng tiêm truyền tĩnh mạch có thể gây đau đầu và khó thở. do đó không vượt quá 50mg/ mỗi phút. Những người thiếu vitamin B1 cũng có thể có tác dụng phụ như buồn nôn và nôn nếu họ được tiêm axit lipoic. Do đó, để giúp những người có chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt nên sử dụng vitamin B1 và B complex kết hợp khi tiêm axit lipoic.

Tại Hàn Quốc, liều 600mg và 300mg tiêm axit lipoic đã được chỉ định để điều trị bệnh thần kinh ngoại biên do tiểu đường. Gần đây, tiêm 300mg – 600 mg axit lipoic kết hợp với tiêm vitamin c liều cao đã thúc đẩy hoại tư tế bào ung thư , theo nghiên cứu của (Cytotoxicity of ascorbate, lipoic acid, and other antioxidants in hollow fibre in vitro tumours. British Journal of Cancer(2001) 84(11), 1544-1550, JJ Casciari, NH Riordan, TL Schmidt, XL Meng, JA Jackson and HD Riordan).

Người ta nói rằng glucose được sử dụng tốt nhất như một loại chất dẫn để pha với axit lipoic. Tuy nhiên, đối với bệnh nhân ung thư và bệnh nhân tiểu đường, nên dùng nước muối thay vì glucose. Dung dịch tiêm tĩnh mạch pha loãng ổn định trong 6 giờ ở trạng thái bóng mờ.

Sử dụng tiêm PDC để tăng cường sức khỏe (Pyruvate Dehydrogenase Complex)

PDC (pyruvate dehydrogenase complex) là phức hợp gồm 5 thành tố PDH complex vitamin Bl, B2, B3, B5 và lipoic acid. Tôi nhở mọi người hay gọi nó với nickname là “Anh trai đại bàng” nhóm B1, 2, 3, 5, trong liệu trình truyên “Cinderella” ( truyền trắng công chúa lọ lem) Các PDC này được sử dụng làm chất dinh dưỡng tham gia vào quá trình sản xuất ATP của mạch TCA và là chất dinh dưỡng đại diện liên quan đến việc sản xuất năng lượng hiểu khí. Nếu chúng vắng mặt, axit lactic được sản xuất trong quá trình kỵ khí, làm giảm đáng kể chứng đau cơ và sản xuất ATP.

Vitamin B 1 (Thiamine)

Vitamin B1 hay được gọi là thiamine. Và nó là amin duy nhất chứa lưu huỳnh (S), nên nó được gọi là ‘thio + amin = thiamine’. Chủ yếu được lưu trữ dưới dạng Thiamine Pyrophosphate (TPP) trong cơ, tim, gan, não và thận

Fursultiamine là một dần xuất của vitamin B1 (thiamine), có thể được sử dụng ở những bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan bằng cách tăng cường hoạt động trong hệ thống thần kinh và cơ bắp và làm giảm quá trình trao đổi chất ở gan. Liệu pháp này được đặt biệt danh là “tiêm tỏi” vi nó có mùi giống như mùi toi trong mùi, và rất tốt cho các vận động viên phải tập thể dục mỗi ngày hoặc những người lao động chân tay vì nó tạo điều kiện giải phóng axit lactic.

Hình 6-7 Cấu trúc của Vitamin B1
Hình 6-7 Cấu trúc của Vitamin B1

Đặc biệt, vitamin B1 có liên quan đến chu trình đường phân (glycolysis) và chu trình Krebs (TCA cycle) để giúp tạo ra năng lượng. Nó cũng thúc đẩy quá trình phosphoryl hóa pentose, góp phần vào việc sản xuất DNA, RAN và các coenzyme khác nhau.

Vitamin B2 (Riboflavin)

Hình 6-8 Cấu trúc của vitamin B2
Hình 6-8 Cấu trúc của vitamin B2

Vitamin B2 (riboflavin) được sử dụng chủ yếu như một thành phần của FAD, một coenzyme liên quan đến chuyển hóa năng lượng. Nó cũng liên quan đến quá trình oxy hóa axit béo (P-oxidation) Trong số các nhóm vitamin B. riboflavin cũng được phân loại là chất chống oxy hóa vì FAD có liên quan đến quá trình oxy hóa và oxy hóa glutathione. Riboflavin cũng tham gia vào quá trình tổng hợp vitamin B3 (niacin).

Lý do tại sao nước tiêu trở nên vàng sau khi dung nạp chất dinh dưỡng có chứa nhóm vitamin B và đó chính là màu của flavin của B2. Đó là nguyên tắc tương tự mà trên một số cây có chứa flavonoid chuyển sang màu vàng khi lá rụng vào mùa thu.

Vitamin (Niacin or Nicotinic Acid)

Hình 6-9 Cấu trúc của vitamin B3
Hình 6-9 Cấu trúc của vitamin B3

Vitamin B3 (niacin) cũng là một loại vitamin liên quan đến chuyển hóa năng lượng, được biết đến chủ yếu hình thành NAD và NADP dể tạo ra các phản ứng oxy hóa và giảm và năng lượng ATP, và giúp giảm cholesterol. Tiêu biểu khi thiếu hụt niacin sẽ biểu hiện bệnh lý nút da (Pellagra). Thiếu hụt nhiều có thể có biểu hiện do quá mức (niacin flush), ngứa da, nhức đầu, tăng đường huyết, tăng axit uric máu, vv.. do sự nở rộng của các mạch máu, và trong trường hợp nghiêm trọng có thể gây ra các vấn đề về thị lực, rối loạn tiêu hóa. tổn thương tế bào gan gây ra bệnh lý về gan.

Vitamin B5 (Pantothenic Acid)

Vitamin B5 là một thành phần của Co-Enzyme A (CoA). Nhóm Acetyl gắn liền với CoA này.

Hình 6-10 Vitamin B5 là thành phần của Co-enzyme A
Hình 6-10 Vitamin B5 là thành phần của Co-enzyme A

Vitamin B5 là thành phần của Co-enzyme A (CoA), nhóm acetyl gắn với CoA này là acetyl-CoA, khởi đầu của chu trình TCA. Ngoài ra, nó được sử dụng để oxy hóa axit béo, tổng hợp acetylcholine, tổng hợp cholesterol và sắc tố đỏ Hem (heme) phân hủy axit amin và tương tự như một thành phần của Acyl Carrier Protein (ACP).

Về cơ bản vitamin B5 được xem là một chất Anti-stress giúp cải thiện các triệu chứng như mệt mỏi mãn tính, mệt mỏi thần kinh, hạ đường huyết, huyết áp thấp và mất ngủ. Ngoài ra, nó cải thiện sự phát triển của các mô não và hệ thần kinh trung ương, sự suy giảm chức năng và mệt mỏi ở tuyến thượng thận.

Nhìn chung, phương pháp ứng dụng tiêm PDC ở bệnh nhân ngoại trú khá đơn giản. Dùng đường tiêm với lượng 25mg axit lipoic 1-2 ống tiêm, 1 ống fursultamin, các thành phần còn lại thường được sử dụng thuốc tiêm Beecom. Nếu bạn pha các thành phần này với 250cc glucose và cho chúng ở mức 2 giọt/mỗi giây, sẽ mất khoảng 30 phút. Nước muối sinh lý có thể được sử dụng, nhưng glucose hữu ích hơn cho việc tăng vận chuyển nội bào và sử dụng năng lượng của axit lipoic.

Gần đây, những người gặp phải vấn đề mệt mỏi về thể chất, chế độ ăn uống.vv có thể được sử dụng như một loại thuốc tiêm cocktail hữu ích và có thể được sử dụng trong một thời gian ngắn cho những bệnh nhân cần cải thiện năng lượng.

Tiêm Glutathione

Glutathione được biết đến như một chất chống oxy hóa diện rộng trong số các chất chống oxy hóa. Glutathione dạng tiêm bị oxy hóa nhanh hơn các dung dịch tiêm cocktail khác, khi để ở môi trường bên ngoài nên tiêm ngay trong vòng 15 phút. Nó thường được gọi là “tiêm trắng ngọc” vì nó có tác dụng làm cho da trắng, nhưng thực tế mức độ tác động trên da là dưới 10%. Được biết, nó có tác động quan trọng hơn đến hệ thống thần kinh, phổi, gan, vv… giúp chống oxy hóa và giải độc.

Glutathione có thành phần của ba axit là amin glutamate + cysteine + glycine. Tất cả ba axit amin này không phải là axit amin thiết yếu, nhưng trong trường hợp của cystein thì khác, loại axit amin thiết yếu mang tên methionine được tạo ra bởi sự phân hủy của các axit amin không thiết yếu này. Vì vậy khi tăng nồng độ sinh học của glutathione người ta dùng ngay cysteine(NAC, N-acetvl-cysteine). Đây là những NAC hiện nay được biết đến nhiều với tên thương mại như muteran, viên nang Furumuscil cap, viên nang Mothtin vv.. Hình 6-1 I).

Glutathione kết hợp với với Glutathione Peroxidase (GSHPx) để chuyển đổi hydro peroxide (H202), một trong những gốc tự do do cơ thể chúng ta sinh ra chuyển đổi thành nước (H20).

Hình 6-11 Quá trình tổng hợp của Glutathione
Hình 6-11 Quá trình tổng hợp của Glutathione
Hình 6-12 Detoxification Pathway of Antioxidants
Hình 6-12 Detoxification Pathway of Antioxidants

Nếu không có glutathione, thì hydro peroxide được chuyển hóa bởi sắt hóa trị hai (Fe2 +) thành oxy hoạt động mạnh hơn, nhóm hydroxyl (HO •). Nhóm hydroxyl này gây ra nhiều thiệt hại do tính oxy hóa và nó có thể oxy hóa đủ mạnh gây biến đổi gen. Khi tham kiểm, thì nhiều tác nhân chống ung thư gây độc tế bào có cơ chế tạo ra các nhóm hydroxyl này và tiêu diệt trực tiếp các gen tế bào ung thư. Các tế bào bình thường cũng bị hư hại vì sự phá hủy oxy hóa mạnh mẽ của các nhóm hydroxyl. Để tham khảo nhóm hydroxyl chống lão hóa giải độc có vitamin c, vitamin E và axit lipoic (Hình6-12).

Hydrogen peroxide liên tục được sản xuất trong cơ thể con người, và hoạt động chống oxy hóa của nó xảy ra từ đầu đến chân, mà không dừng lại ở bất kỳ nơi nào trong dịch ngoại bào, dịch nội bào và màng tế bào. Vì vậy, glutathione được gọi là một chất chống oxy hóa diện rộng.

Glutathione cũng tham gia Vào phản ứng glutathione conjugation reaction trong giai đoạn thứ hai giải độc quá trình chuyển hóa thuốc của gan. Nó chuyển đổi các chất độc hại trong cơ thể hòa tan trong nước và thải chúng vào nước tiểu hoặc mật. Để tham khảo, enzyme tham gia vào quá trình này là glutathione-S-transferase.

Một trong những lý do cho sự phổ biến của glutathione đã đạt được dạo gần đây là hiệu ứng với tên gọi là “tiêm trắng ngọc”, nguyên tắc làm trắng da của glutathione là ức chế hoạt động của tyrosinase, một loại enzyme chịu trách nhiệm hình thành hắc tố eumelanin có màu đến và chuyển hóa thành pheomelanin không có màu. Tuy nhiên, như đã đề cập trước đó khi nói đến liệu pháp tiêm trắng ngọc xét về hiệu quả thì không lớn đến mức chỉ nhấn mạnh quá nhiều vào tác dụng làm trắng như tên gọi của nó. Một lĩnh vực đáng quan tâm gần đây hơn về glutathione là tăng cường hệ thống thần kinh của não. Đặc biệt, nhiều nghiên cứu đang được tiến hành về bệnh thiếu máu não cục bộ. rối loạn trí nhớ, bệnh Parkinson và các bệnh lý tương tự.

Cho đến nay, một số tác dụng tiêu biểu của glutathione đã được mô ta như bảng dưới đây

Bảng 6-1 Tác dụng da dạng của Glutathione
1. Tác dụng chống oxy hóa mờ
• Chuyển hóa H202 thành H20. oxy hóa khử vitamin c
• Hệ thần kinh não, gan, phổi, da
2. Tác dụng giải độc
Tham gia vào conjugation giai đoạn Phase II
Hiệu quả để khử độc carbon monoxide, kim loại nặng, dung môi hữu cơ và bức xạ
3. Điều trị và ngăn ngừa tổn thương oxy hóa của hệ thần kinh
Điều trị bệnh lý tổn thương thần kinh ngoại biên do hóa trị
Giúp điều trị bệnh Parkinson
4. ức chế sắc tố (Làm trắng da)
• ức chế sản xuất Eumelanin, Oxy hóa khử Pheomelanin
5. Duy tri chức năng hồng cầu và ngăn ngừa thiếu máu
• Thúc đẩy sự hấp thu sắt và chức năng tạo máu
• Ngăn ngừa tan máu hồng cầu, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì chức năng
6. Ngăn ngừa tiến triển đục thủy tinh thế
• Ngăn chặn tiến trình đục thủy tinh thể bằng cách bảo vệ protein SH không ổn định trong dịch kính
• Tạo điều kiện cho việc điều trị bệnh giác mạc và võng mạc

Glutathione thường là ở mức 600mg trong 1V, nhưng tôi thường sử dụng 2V (1200mg) thường hơn. Gần đây. loại 1200mg trong 1V cũng có sần. Thông thường, 1 ~ 600mg ~ 3V (1800mg) được trộn với 60 ~ lOOmL dung dịch muối và sau đó tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch từ từ (shooting ) hoặc kỹ thuật tiêm truyền (dropping) với tốc độ nhanh.

Theo quy định, các sản phẩm có thành phần axit amin, chẳng hạn như glutathione, không nên trộn lẫn với các dung dịch axit amin nào khác. Điều này là do có một mối lo ngại rằng chức năng của glutathione có thể bị mất hay thay đổi do tương tác với các axit amin khác có trong dung dịch tiêm axit amin. Glutathione ở dạng bột và khi sử dụng được hòa tan tỏa thành dạng dung dịch tiêm cơ bản, điều quan trọng là phải thực hiện quy trình tiêm tĩnh mạch trong vòng 15 phút sau khi mở vì tốc độ oxy hóa của nó diễn ra nhanh chóng trong không khí.

Glutathione so về mức độ thì nó oxy hóa nhanh và mạnh hơn nhiều so với vitamin c, vì vậy chúng ta có thể được kết hợp sử dụng thuốc tiêm glutathione và vitamin c liều cao với liều lOg đến 20g khi được ứng dụng trong liệu pháp chống oxy hóa để giảm mệt mỏi và tăng cường miễn dịch. Tuy nhiên, chẳng hạn như bệnh nhân ung thư glutathione không được khuyến nghị dùng khi bạn muốn tạo ra quá trình oxy hóa như vitamin c. Tất nhiên, việc sử dụng nó vào những thời điểm không có vitamin c cao là thì không sao. Trường hợp đối với bệnh nhân Parkinson thường tiêu hao 5V (3000mg) đến 7V (4200 mg) hai lần một tuần trong vòng hơn 2 đến 3 tháng, đây là một lượng tiêu thụ đáng kể. Do đó, thật khó và không biết phải làm sao khi bệnh nhân gặp gánh nặng về chi phí. Nếu glutathione được chỉ định cho mục đích làm trắng da, nên dùng 2-3 lần trên một tuần trong một thời gian dài, vì vậy bệnh nhân cần được nắm rõ điều kiện này và có sự chuẩn bị trước khi làm liệu trình.

Tiêm selenium

Các khoáng chất tiêu biểu có chức năng như chất chống oxy hóa như selen, kẽm, đồng và mangan. Trong phần này, tôi muốn giới thiệu về selen, chất mà gần đây đang đạt được sự quan tâm và có tầm quan trọng. Selenium được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1817 bởi nhà hóa học người Thụy Điển Verselius tên của nó theo thuật ngữ Hy Lạp đó là nguồn gốc của từ selene – nữ thần mặt trăng. Trong giai đoạn đầu, nó được phân loại là chất độc hại do quá liều độc hại, nhưng sau nhiều nghiên cứu, selen đã được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Tổ chức Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) công nhận vào năm 1978. Liều lượng khuyến nghị hàng ngày là 50-200 g (1g là bằng 0.00lg). Năm 1996, Larry Clark (Mỹ) đã chứng minh trong các thử nghiệm lâm sàng rằng điều trị bằng selen làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh ung thư (ung thư tuyến tiền liệt, ung thư ruột kết, ung thư phổi, v.v.) Selen thuộc nhóm 6 với oxy và lưu huỳnh, 34 nguyên tố trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học (Hình 6-13).

Hình 6-13 Selen trên bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học
Hình 6-13 Selen trên bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học

SỐ nguyên tử có thể được hiểu là số electron. Mặt khác, ta nhóm các nguyên tử lại với nhau với số lượng electron đi qua quỹ đạo ngoài cùng và phân loại chúng thành “nhóm Nói cách dễ hiểu, oxy, lưu huỳnh và selen đều có sáu electron trong quỹ đạo. Ví dụ, carbon thuộc Nhóm 4 và có bốn electron được đặt ở quỹ đạo bên ngoài dưới dạng đông, tây, nam và bắc tạo ra các vật liệu hữu cơ tự nhiên khác nhau như metan, ethane và propane. Các nguyên tử thuộc nhóm 6, chẳng hạn như oxy, tạo thành một liên kết với kết cấu đặt trưng duy nhất vì clu có bốn electron được ghép đôi và 2 electron ngoài cùng ( Hình 6-14).

Lưu huỳnh và selen có cùng liên kết nhóm 6 và thuật ngữ selen có cùng sơ đồ đặt tên với lưu huỳnh. Ngoài ra, selen có thể liên kết với nơi gắn lưu huỳnh. Selen được phân loại hóa học thành selen vô cơ, selen hữu cơ và protein selen.

Phân biệt ba hình thái này là điểm quan trọng nhất để hiểu rõ về selen. Với tên gọi Selen vô cơ là đề cập đến selen ở trạng thái không chứa chất hữu cơ của carbon. Nó được chia thành năm loại, thứ nhất là phân tử selen (Se2) và thứ hai là hydro selenide (H2Se). Hydro selenide này rất quan trọng vì nó là chất cơ bản hình thành protein selen trong cơ thể. Thứ ba là selenium dioxide (Se02), về cơ bản nó là một oxit ở dạng khoáng chất, rất độc cho da và cơ quan hô hấp. Thứ tư, nó là selenite từ các vụ phun trào núi lửa được tạo ra bởi phản ứng với nước. Selen ở dạng axit selenic hoặc natri selenit sẽ trở thành selen vô cơ hiện đang được sử dụng làm thuốc. Cuối cùng là selenate, nó được sinh ra tự nhiên trong môi trường axit yếu giống nhu axit sulfuric nó đặc tính axit mạnh. ( Hình 6-15 ).

Hình 6-14 Cấu trúc liên kết của carbon nhóm 4 và oxy nhóm 6
Hình 6-14 Cấu trúc liên kết của carbon nhóm 4 và oxy nhóm 6

Các sản phẩm lĩnh vực y tế của selen vô cơ ở dạng axit selenic, và chủ yếu được thực hiện ở dạng lỏng hoặc được sử dụng dưới dạng tiêm.

Selen hữu cơ là một hình thái trong đó selen được kết hợp với các axit amin. Cụ thể, selen chiếm lưu huỳnh thay cho axit amin chứa lưu huỳnh cysteine và methionine. Vì vậy selen hữu cơ tiêu biểu có ba loại selenocystein .methyl selenocystein và selenomethionine (Hình 6-16). Những selen hữu cơ này dược hấp thụ chủ yếu qua thực phẩm. Trong đó tiêu biểu là qua hạch brazil (bertholletia excelsa) là một loại có chứa nhiều selen hữu cơ. Nó thường chứa 50 ug selenium mỗi hạt. Ngoài ra, cá ngừ, cá bơn và cá mòi cũng có nhiều selen hữu cơ.

Hình 6-15 Các thuật ngữ cấu trúc phân tử của lưu huỳnh vô cơ nhóm 6 và selen vô cơ
Hình 6-15 Các thuật ngữ cấu trúc phân tử của lưu huỳnh vô cơ nhóm 6 và selen vô cơ
Hình 6-16 Các loại Selen hữu cơ
Hình 6-16 Các loại Selen hữu cơ

Protein Selen (selenoprotein) dùng để chỉ selen ở dạng liên kết với protein, trong đó thuật ngữ “protein” dùng để chỉ các enzyme. Do đó, nó còn được gọi là selenoenzyme. Cho đến nay, hơn 35 selenoprotein đã được xác định. Tiêu biểu cho selenoprotein gồm glutathione pcroxidase(GSHPx), thioredoxin reductase, selenoprotein p, Iodothyronine deiodinase

Bảng 6-2 Selenium Protein và mô phân phối
Selenoproteins Tissue distribution
Cytosolic GSHPx All, Including thyroid
Phospholipid hydroperoxide GSHPx All, Including thyroid
Gastrointestinal GSHPx Gastrointestinal tract
Extracellular GSHPx Plasma, thyroid
Thloredoxln reductase All, Including thyroid
lodothyronine-deiodlnase (typel) Liver, Kidneys, and thyroid
lodothyronlne-delodlnase (type2) CNS, pituitary
lodothyronine-deiodlnase (type3) Brown adipose tissue, CNS, placenta
Selenoprotein P Plasma
Selenoprotein W Muscle
Sperm capsule selenoprotein Sperm tall

Giống như vitamin c, selen hoạt động như một chất chống oxy hóa với số lượng nhỏ, và vượt quá nó hoạt động như một chất chống lại tế bào ung thư. Do đó, khi được sử dụng cho mục đích tăng cường sức khỏe, người ta thường sử dụng liều 200ug và khi được sử dụng để Thúc đẩy hoại tử tế bào ung thư của bệnh nhân ung thư, thường sử dụng liều 400 ~ 500ug trở lên.

Selenium như một chất chống oxy hóa được biết là có nhiều chức năng như chống ung thư, chống lão hóa và tác dụng chống vi rút, cũng như tăng cường khả năng miễn dịch, ngăn ngừa bệnh tim mạch và cải thiện chức năng não. Cũng có sự quan tâm nghiên cứu vai trò ngày càng rõ đối với các phòng khám vô sinh vì nó làm tăng hoạt động của tinh trùng. Mặt khác, hơn 500ug selen làm cho methyl selenol (CH3SeH) hoạt động như một cuộc tấn công trực tiếp vào các tế bào ung thư. Methyl selenol thường được giải phóng vào đường hô hấp hoặc nước tiểu.

Nói chung, không nên dùng selen với vitamin c. Selen không nên dùng được đề cập ở đây để nói đến selen vô cơ. Khi vitamin c và selen vô cơ được trộn lẫn với nhau, vitamin c và selen phản ứng với nhau và các phân tử selen lắng đọng tạo kết tủa màu hồng. Do đó, khi dùng hoặc tiêm selen vô cơ nên dùng vitamin c ở khoảng thời gian khác. Tuy nhiên, selen hữu cơ lại không phản ứng trực tiếp với vitamin c, vì vậy nó an toàn hơn và có thể được hấp thụ vào cơ thể. Ngoài ra, trong trường hợp selen vô cơ dưới dạng tiêm, khi được pha thành dung dịch tiêm axit amin và trộn với vitamin c, kết tủa selen xảy ra chậm trong 24 giờ và an toàn ngay khi dùng tiêm ngay lập tức hoặc tuần tự.

Khi sử dụng selen, cẩn thận trọng với tính năng của nó chuẩn đoán và chỉ định liều dùng thích hợp. Liêu lượng khuyến cáo hàng ngày của selen thay đổi theo độ tuổi, nhưng thường là 50-60 g cho người lớn. Ở Hàn Quốc, selen được phân phối rộng rãi (thổ nhưỡng: 0,05 ~ O.OOppm), người ta đã biết hấp thụ một mức độ selen thích hợp thông qua chế độ ăn uống hàng ngày. Theo một nghiên cứu được thực hiện bởi KFDA, lượng selen trung bình trong chế độ ăn uống hàng ngày của chúng tôi là 68,6 68.6g / ngày ở người trưởng thành khoảng 60kg. Khi selen vô cơ được dùng cho bệnh nhân ung thư cho mục đích chống ung thư, việc đặt giới hạn trên không quá 1 mg (1000 g) mỗi ngày đang được cho là an toàn. Thực tế một số tổ chức y tế có thể chăm sóc tới 2000 ug nhưng dưới sự theo dõi cẩn thận của bác sĩ để cải thiện điều trị ung thư.

Đến đây, tôi đã tóm tắt ngắn gọn cơ bản nhất về selen (selenium). Khi sử dụng selen cho mục đích cải thiện sức khỏe ở bệnh nhân ngoại trú, liều lượng khoảng 200g trộn với các axit amin là lựa chọn tốt nhất, và được ứng dụng đúng cách thì hiệu quả cải thiện sức khỏe , chống lão hóa, thẩm mỹ và giúp “Well being” giống như các thuốc tiêm có vitamin c khác vậy.

Multiblue Inj – Tiêm đa vi khoáng

Dinh dưỡng có thể được chia thành các chất dinh dưỡng đa lượng (macronutrients), cung cấp lượng calo và carbohydrate, chất béo và protein, và các vi chất dinh dưỡng (micronutriểnts) giúp chuyển hóa năng lượng và cân nguồn cung cấp tối thiểu để duy trì sự sống. Những vi chất dinh dưỡng này chia ra làm vitamin và khoáng chất.

Khoáng sản hay là những khoáng chất với một số lượng lớn gọi là đại khoáng chất (major minerals) Khi nó được chia thành các khoáng chất với lượng cực nhỏ thì gọi là vi khoáng (trace minerals) . Các khoáng chất chính chúng ta biết là magiê, canxi, natri, kali, phot pho, clo và lưu huỳnh. Trong trường hợp các đại khoáng chất (major minerals) , việc đánh giá sự cân bằng của chúng thông qua các xét nghiệm máu là rất quan trọng. Tuy nhiên, khoáng chất mịn chiếm ít hơn 0,005% trọng krone cơ thể, và chủ yếu được sử dụng như một thành phần enzyme, và rất khó để đánh giá sự thiếu hụt dư thừa bằng xét nghiệm máu. Do đó, xu hướng đánh giá hàm lượng khoáng chất trong các mô qua biểu hiện như tóc thay đổi. Có khoảng 9 khoáng chất vi lượng vi khoáng (trace minerals ) được biết là rất quan trọng đối với của con người.

9 khoáng chất này bao gồm selen (Se), kẽm (Zn), đồng (Cu), mangan (Mil), crom (Cr), molypden (Mo), flo (F), iốt (I) và sắt (Fe).

Hiện tại trong nhóm 9 vi khoáng thiết yếu chúng ta đang có sản phẩm để tiêm chia làm 2 loại là nhóm 5 loại vi khoáng (Se, Zn, Cu, Mn, Cr) và loại nhóm 9 vi khoáng (Se, Zn, Cu, Mn, Cr, Mo, F, I, Fe)

Mũi tiêm 5 vi khoáng thiết yếu

Nó bao gồm năm khoáng chất: kẽm (Zn), đồng (Cu), mangan (Mn) , crom (Cr) và selen (Se). Được sản xuất để cung cấp vi khoáng cho cơ thể với các đặc tính chống oxy hóa cần thiết ứng dụng thuốc tiêm tĩnh mạch

Kẽm (Zn), đồng (Cu) và mangan (Zn) được sử dụng làm thành phần của SOD, một peroxidase và hoạt động như các coenzyme của chất chống oxy hóa. Ngoài ra, kẽm (Zn) thúc đẩy giải phóng hormone tăng trưởng trong giai đoạn tăng trưởng, và được biết là tốt cho việc tăng cường khả năng miễn dịch, phát triển cơ bắp và tốt cho bệnh tiểu đường gần đây người ta còn nghiên cứu phát hiệm ra chức năng cải thiện chức năng của nam giới.

Đồng (Cu) duy trì độ đàn hồi thành tim mạch và tham gia vào quá trình chuyển hóa chất béo. Ngoài ra, việc thiếu đồng cũng ảnh hưởng đến sắt (Fe) và khó tổng hợp hồng cầu. Mangan (Mn) thì có liên quan đến việc sản xuất collagen và ức chế phản ứng viêm của da. Mangan cũng cần thiết để ngăn ngừa loãng xương. Selenium (Se) là một khoáng chất vượt qua vai trò của chất chống oxy hóa và như thuốc chống ung thư dựa trên nồng độ 200pg. Nó có nhiều chức năng khác nhau như phòng chống ung thư, tăng cường miễn dịch, giải độc kim loại nặng và phòng chống vô sinh. Đặc biệt, nó được sử dụng như một coenzyme cấu thành glutathione peroxidase (GPx), một loại enzyme chống oxy hóa được lan truyền rộng rãi đến khắp nơi trong cơ thể con người.

Chromium (crom- Cr ) được biết đến rộng rãi như một khoáng chất cần thiết để tăng cường hoạt động của thụ thể insulin và giải quyết tình trạng không dung nạp, thay vì hoạt động như một chất chống oxy hóa nó còn ngăn ngừa chứng mất điều hòa và viêm thần kinh ngoại biên do suy giảm chức năng thần kinh ngoại biên nó cũng liên quan đến tăng cơ và giảm mỡ.

Điều chúng ta nên hiểu là các vi khoáng chất này hoạt động cùng nhau mang lại tác dụng làm tăng các enzyme chống oxy hóa, thúc đẩy giảm phù nề và chữa lành vết thương, và khồi phục xơ cứng động mạch chức năng mạch máu khi chúng hoạt động cùng nhau chứ không phải là chức năng của mỗi loại.

Tiêm khoáng có thể được sử dụng hiệu quả ít đau mạch máu hơn khi được sử dụng kết hợp với 200 ml hoặc 250 ml dung dịch tiêm axit amin nồng độ thấp. Năm loại tiêm khoáng gần đây đã được rất nhiều bài báo cáo trong khoa phẫu thuật để giảm phù nề và thúc đẩy quá trình lành vết thương bằng cách tiêm vi khoáng sau khi làm thủ thuật. Ngoài ra, các khoáng chất này được bài tiết qua nước tiểu và ruột, ngay cả khi dùng tương đối lớn vì vậy chúng thường an toàn khi sử dụng.

Hãy nhớ rằng tiêm vi khoáng có xu hướng đau đớn hơn so với tiêm chất dinh dưỡng khác. Nói chung, công thức pha 250 ml axit am in được khuyến cáo bệnh nhân bị đau nặng. Thao tác lắc dung dịch axit amin trộn với khoáng chất ngay trước khi tiêm. Và khi tiêm cảm giác đau xu hướng giảm, cơn đau trong mạch máu có xu hướng giảm dần, do đó, cũng nên thuyết phục người tiêm rằng bạn sẽ ít hơn lần đầu tiên.

Mũi tiêm 9 vi khoáng thiết yếu

Mũi tiêm 9 khoáng chất thiết yếu , ngoài selen. kẽm, đồng, mangan và crom, bốn khoáng chất thiết yếu còn có khoáng chất: molypden (Mo), tlorua (F), iốt (I) và sắt (sắt, Fe). Các loại thuốc tiêm hiện đang được bán tại Hàn Quốc, đầu tiên là dòng sản phẩm của Adam Adamel N- được nhập khẩu từ Đức, hiện đã được nội địa hóa và bắt đầu được bán bởi các công ty dược phẩm khác nhau. Hiệp hội Dinh dưỡng Jugular châu Âu khuyến nghị rằng tất cả các bệnh nhân dinh dưỡng cần nhận được ít nhất lượng vitamin và khoáng chất được khuyến nghị mỗi ngày. Các tác động chính và triệu chứng thiếu hụt các khoáng chất thiết yếu được tóm tắt ở bảng dưới đây.

Bảng 6-3 Chức năng nguyên tố và triệu chứng thiếu
Trace Element Functions Deficiencies
Selenium (Se) Các thành phần của GPx (Antoxịdease), chuyển hóa H202 thành nước, miễn dịch, chống vi rút, chống ung thư, hoại tử tế bào ung thư Bệnh cơ tim, cơ xương
Zinc (Zn) Tham gia vàọ hơn 200 chức năng enzyme, chữa lành vết thương, tổng hợp axit nucleic, tăng khả năng miễn dịch, tăng trưởng, chức năng tình dục, tổng hợp axit nucleic Chậm phát triển, rụng tóc, nổi mẩn da, giảm khả năng miễn dịch, vô sinh
Copper (Cu) Thành phẩn của SOD. tổng hợp collagen và elastin, hoạt Chảy máu dưới màng cứng, rối
Manganese (Mn) Hoạt động chống oxy hóa, tổng hợp axit béo và cholesterol, tổng hợp urê. chức năng bình thường của hệ thần kinh, tổng hợp collagen Giảm hồng cầu
Chromium (Cr) Hoạt động của insulin, duy trì chức năng thần kinh ngoại biên, tăng trưởng ở trẻ em Không dung nạp
Molibden (Mo) Thúc đẩy chuyển hóa axit amin, chuyển hóa purin, vận chuyển oxy Phá vỡ sự chuyển hóa axit amin có chứa lưu huỳnh
Fluoride (F) Khoáng hóa xương và răng Sâu răng
Iodine (1) Thành phần của T3 và T4, Chuyển hóa năng lượng Suy giảm chức năng tuyến giáp
Iron (Fe) Thành phần của huyết sắc tố, thành phần của Cytochromr Thiếu máu

Những bệnh nhân cần các nguyên tố vi lượng này có thể rơi vào nhóm thành trẻ sinh non, bệnh nhân cao tuổi, người nghiện rượu, bệnh nhân mắc bệnh mãn tính, rối loạn tiêu hóa (hấp thu, rối loạn chức năng viêm và thần kinh), bệnh gan hoặc tụy, bệnh nhân bỏng. Trong khu vực của chúng ta bệnh nhân ngoại trú chủ yếu sẽ là bệnh nhân cao tuổi, bệnh nhân mắc bệnh mãn tính và rối loạn tiêu hóa.

So sánh hàm lượng vi khoáng khi tiêm, loại mũi tiêm 5 vi khoáng nồng cộ cao hơn nhiều , riêng loại 9 mũi tiêm vi khoáng gần đày được khuyến cáo với liều hàng ngày. Do đó, loại 5 mũi tiêm vi khoáng được khuyến cáo sử dụng tạm thời, như chữa lành vết thương sau phẫu thuật, giảm phù nề và 9 mũi vi khoáng được khuyến nghị đề điều trị các đối tượng phù hợp với điều kiện và bệnh lý của họ và điều kiện đến bệnh viện điều trị thường xuyên, chẳng hạn như bệnh nhân cao tuổi. (Bảng 6-4).

Bảng 6-4 So sánh thành phần và phương thức tiêm
Trace Element Functions Deficiencies
Selenium (Se) Các thành phần của GPx (Antoxidese), chuyển hóa H2O2 thành nước, miễn dịch, chống vi-rút, chống ung thư, hoại tử tế bào ung thư Bệnh cơ tim, cơ xương
Zinc (Zn) Tham gia vào hơn 200 chức năng enzym, chữa lành vết thương, tổng hợp axit nucleic, tăng khả năng miễn dịch, tăng trưởng, chức năng tình dục, tổng hợp axit nucleic Chậm phát triển, rụng tóc, nổi mẩn da, giảm khả năng miễn dịch, vô sinh
Copper (Cu) Thành phần của SOD, tổng hợp collagen và elastin, hoạt động chống oxy hóa Chảy máu dưới màng cứng, rối loạn nhịp tim
Manganese (Mn) Hoạt động chống oxy hóa, tổng hợp axit béo và cholesterol, tổng hợp urê. chức năng bình thường của hệ thần kinh, tổng hợp collagen Giảm hồng cầu

Trong lĩnh vực thẩm mỹ, tiêm vi đa khoáng có thể rất hữu ích vì tiêm phục hồi giúp tăng tốc độ phục hồi của bệnh nhân và tăng hiệu quả điều trị sau phẫu thuật hoặc thủ thuật thẩm mỹ.

Tiêm cam thảo – Licorice injection

Bản thân thuốc tiêm cam thảo không được phân loại là chất chống oxy hóa, nhưng nó được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hàn Quốc chấp thuận sử dụng gần như hoàn toàn cho các bệnh lý da, viêm da hoặc dị ứng bao gồm cả bệnh nhân gan. Chỉ định cùng mũi tiêm khác được sử dụng cùng nhau, chúng có lợi thế là đảm bao sự an toàn theo chỉ định của bác sĩ và gợi ý như sau.

Cam thảo tên tiếng Anh được gọi là licorice và tên khoa học của nó là Glycyrrhiza uralensis. Đày là một loại cây lâu năm thuộc họ đậu và được biết đến là nguồn gốc chủ yếu ở vùng đông bắc Trung Quốc, Siberia và Mông Cổ. Nó được trồng như một loại thảo mộc trên toàn thế giới. Cam thảo có vị ngọt và là thực liệu, dược liệu được sử dụng rộng rãi để ăn, làm thuốc và làm chất tạo ngọt.

Thuốc được biết là đã được sử dụng từ thời cổ đại. nó được biết là đã được sử dụng cả ở phương Đông và phương Tây. Nó chủ yếu được sử dụng cho các triệu chứng loét dạ dày, hen suyễn, đau họng, sốt rét, đau bụng và nhiễm trùng khác nhau. Độ mạnh của vị ngọt được biết là gấp khoảng 50 lần so với đường, nên nó cũng được sử dụng như một chất làm ngọt cho chế độ ăn kiêng vì nó không chứa calo.

Tiêm cam thảo là dùng thành phần chính của cam thảo có chứa glycyrrhizin, được gọi là “tiêm cam thảo”. Hiện nay, chủ yếu các sản phẩm của Nhật Bản được nhập khẩu và sử dụng. Một liều tiêm cam thảo 1V là 20 mL. Thành phần chính là ammonium glycyrrhizinate 53 mg (glycyrrhizin 40 mg), glycine 400 mg và L-cysteine hydrochliride 20 mg. Và quan trọng nhất trong số này là glycyrrhizin. Glycyrizine thường được gọi là axit glycyrrhizic (axit glycrrhizic, axit glycyrrhizinic), và nó cũng là thành phần làm ngọt của cam thảo được đề cập trước đó.

Glycyrrhizine được biết là có chức năng steroid, nên cực kỳ thận trọng khi pseudoaldosteron khi sử dụng vượt mức, nhưng nó chưa được ghi nhận cụ thể cho các tác dụng phụ khác nhau tùy thuộc vào nồng độ và thời gian chính xác.

Việc sử dụng 1250 mg (khoảng 3A) trong hơn hai tuần liên tiếp có thể gây ra các triệu chứng của hội chứng Cushing. Tuy nhiên, tác dụng phụ cụ thể theo nồng độ và thời lượng khác nhau cụ thể vẫn chưa được ghi nhận chi tiết.

Nó được biết là có hiệu quả chính trong việc chống viêm, chống dị ứng, chức năng gan, viêm gan mạn tính, tăng cường miễn dịch, chống vi rút, khó tiêu thông qua tác dụng dược lý chính của glycyrrhizin. Tiêu biểu nhất trong số này là chức năng của corticosteroid. Đặc biệt, nó được biết là có liên quan trực tiếp đến cortisol. Cortisol chủ yếu đáp ứng với stress mãn tính, được tiết ra bởi vỏ thượng thận để đáp ứng với hormone kích thích vỏ thượng thận (ACTH) ở tuyến yên. Khi cortisol kết thúc, nó bị bất hoạt bởi cortisone bởi 11-P-HSD2 (11-beta hydroxy steroid dehydrogenase type 2 ở thận. Glycyrizine ngăn chặn enzyme 1 1- -HSD2 này khôns hoạt động và làm tăng tuổi thọ của cortisol. Điều này dẫn đến sự nhận định rằng glycyrrhizine là một steroid, nhưng Cuối cùng, nó chỉ có nhiểu biểu hiện để tận dụng chức năng của steroid. Ngoài ra, nó âm tính trong các bài kiểm trả doping, vì vậy các vận động viên có thể sử dụng nó.

Bệnh nhân mắc hội chứng mệt mỏi mãn tính hoặc suy nhược tuyến thượng thận được biết là có nồng độ cortisol trong máu thấp. Các triệu chứng có thể xảy ra khi cortisol trong máu thấp rất khác nhau (Bảng 6-5).

Bảng 6-5 Symptoms of Low Cortisol
Bảng 6-5 Symptoms of Low Cortisol

Ngoài việc cải thiện các triệu chứng mệt mỏi mãn tính, người ta còn biết rằng bằng cách kiểm soát chức năng của corticosteroid, nó được biết đến để giúp các bệnh lý khác nhau về da và các triệu chứng mãn kinh, giảm mỡ cơ thể, chống viêm và chống dị ứng. Ngoài ra, nó có hiệu quả trong việc cải thiện chức năng gan và chức năng tiêu hóa. Nó cũng được biết là còn có tác dụng chống lại vi-rút (Bảng 6-6).

Bảng 6-6 Hiệu quả nghiên cứu cho thấy tác dụng với Vi rút
Virus
• Epstein-Barr virus (EBV) • Herpes simplex virus
• Hepatitis A virus (HAV) • Hepatitis B virus (HBV)
• Hepatitis C virus (HCV) • Human cytomegalovirus (CMV)
• Human immunodeficiency virus (HIV) • Influenza virus
• SARS Coronavirus • Varicella zoster virus (VZV)

Tiêm cam thảo có thể được tiêm trực tiếp bằng cách tiêm tĩnh mạch bằng kim cánh bướm, hoặc pha nhanh với N / s 50-100cc, sau đó tiêm nhỏ giọt. Bạn cũng có thể sử dụng kết hợp với liệu pháp mega vitamin hoặc tiêm Myers cocktail. Tuy nhiên, vì nó có chứa axit amin glycine và cysteine, việc trộn với dung dịch tiêm axit amin khác đang gây tranh cãi.

Trung bình nên sử dụng trung bình khoảng 1 ~ 2 chai cho 1 lần tiêm, ở những bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính, có thể sử dụng 2-3 chai. Tuy nhiên, liều lượng tuyệt đối không vượt quá tối đa 5 chai mỗi ngày. Ngoài ra, nếu bạn lựa chọn liệu trình với khoảng cách trị liệu là 1-2 tuần tiêm 1 lần thì không sao nhưng nếu bạn muốn sử dụng hàng ngày liên tục nên cân nhắc kỹ và không được dùng quá 3 tháng. Nếu bạn cần sử dụng nó mỗi ngày, hãy sử dụng liên tục trong 1-2 tuần và nghỉ 1-2 tuần.

Xem thêm:

SỰ THAY ĐỔI CỦA COLLAGEN VÀ NGUYÊN BÀO SỢI KHI LÃO HÓA

PHƯƠNG PHÁP VÀ HIỆU QUẢ CỦA TIÊM CẤP ẨM CĂNG BÓNG DA

SỰ THAY ĐỔI CỦA TOÀN BỘ CƠ THỂ TRONG QUÁ TRÌNH LÃO HÓA VÀ LÃO HÓA DA

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *