Tiêm cấp ẩm (Hydrating injection)

Trong thực tế tên của kỹ thuật tiêm cấp ẩm này thường được gọi là “tiêm căng bóng” dựa vào biểu hiện người ta gọi tên nó như thế theo thị trường. Vì không phải đặt tên dựa vào phương pháp làm thủ thuật hoặc sản phẩm đặc biệt nên kĩ thuật tạo ta làn da căng bóng, mịn màng đa dạng và đòi hỏi thành phần cũng như phương pháp có thể khác nhau cho mỗi người.

Ngoài việc hay sử dụng Hyaluronic Acid – loại dùng rộng rãi cho hầu hết các liệu trình “tiêm căng bóng” thì những kinh nghiệm cá nhân về liều lượng và khoảng thời gian thực hiện liệu trình và phương pháp sử dụng kết hợp PDRN và Hyaluronic Acid sẽ được nói rõ trong chương này.

Tại sao Hyaluronic Acid được sử dụng hầu hết trong các loại sản phẩm tăng cường cấp ẩm cho da trong mỹ phẩm cùng như “ tiêm căng bóng” ?. Trước hết, thông thường, với một người nặng trung bình 70kg thì sẽ chứa khoảng 15g Hyaluronic Acid và khoảng 2/3 số đó được thay thế trong vòng một ngày.

Axit Hyaluroic là thành phần chính và rất quan trọng cấu tạo nên nền ngoại bào (chief components of the extracellular matrix) và đóng một vai trò không thể thiếu trong việc di chuyển và biệt hóa tế bào (cell proliferation and migration), hydrodynamics của mô.(2)

Đặc biệt, nó đóng một vai trò quan trọng trong tái tạo mô, phan úng viêm (tissue regeneration, inflammation response) và hình thành mạch máu mới trong quá trình tái tạo mô, giúp phục hồi và tái tạo vết thương.

Nó còn có khả năng liên kết với nước vượt trội so với các polyme khác của cơ thể, có vai trò chính trong việc duy trì cân băng độ ẩm cho da. (3)

Vì vậy hãy tìm hiểu thực hành lâm sàng của tiêm căng bóng da trên bối cảnh này.

Đầu tiên, chỉ dùng Hyaluronic Acid đơn phân tử là phương pháp sử dụng HA không liên kết. Hyaluronic Acid không được liên kết thời gian bán rã ngắn (4) (3-5 phút trong máu, dưới 24 giờ trong da và 1-3 tuần trong sụn,v…v…) so với nỗ lực của bác sĩ và đau đớn của bệnh nhân thì hiệu quả đạt được không nhiều. Tuy nhiên, trong trường hợp bạn muốn tạm thời giảm các triệu chứng viêm nhiễm do da khô và triệu chứng nhạy cảm thì có thể sử dụng theo kinh nghiệm và kết quả cũng khá khả quan.

Trong trường hợp HA liên kết chéo, khả năng giữ độ ẩm tạm thời thấp hơn HA không liên kết nên hiệu quả giữ ẩm là khó có thể mong đợi hoặc theo lí thuyết có khả năng bổ sung liên tục cho đến khi HA hấp thụ hết bởi sự suy giảm thể tích iso đặc hiệu liên kết chéo (iso volumetric degradation). Tuy nhiên, trong thực tế không có bằng chúng nào cho thấy HA liên kết chéo -có thể hiểu là filler, tất cả được phân hủy hoàn toàn trong Cơ thể, có ý kiến cho rằng nếu dư lượng chất tạo liên kết được tích tụ ở mô da trong thời gian dài thì cần có phải pháp can thiệp phải hòa tan nó một cách nhân tạo, do vậy phải thận trọng trong việc lựa chọn sản phẩm.

Mặt khác, liệu pháp phối hợp PDRN (hoặc PN) là một phương pháp để bổ sung các nhược điểm của quá trình làm căng bóng chỉ bằng Hyaluronic Acid và tạo ra nhiểu tác dụng có giá trị hơn.

PDRN có nguồn gốc từ cá hồi hoặc từ các tế bào phồi thai (germ cell) khác đóng vai trò trong quá trình hình thành và kích hoạt môi trường vi mô (micro-environment) với các thành phần chất nền ngoại bào(extra-cellular component) quan trọng. Bao gồm môi trường vi mô (micro-environment) và các proteins: collagens, fibronectin, elastin, và phức hợp polysaccharides như: proteoglycans, hyaluronic acid (HA). Đặc biệt quá trình tái tạo tế bào bị tổn thương phải tổng hợp axit nucleic(nucleotide) và được thực hiện thông qua con đường mới ( de novo pathway), nhưng khi có sự hiện diện của PN (polynucleotide) xung quanh tế bào, nó sẽ kích hoạt con đường salvage (salvage pathway) để tăng tốc độ tái tạo tế bào( hình 8-1 ). Nó cũng kích thích các nguyên bào sợi giác mạc(comeal fibroblast), nguyên bào xương(osteoblast) và nguyên bào sợi(fibroblast) để làm phong phú môi trường xung quanh các tế bào. Hơn nữa, sự kết hợp của HA-một thành phần ngoại bào(extra-cellular component) làm tăng hiệu quả phục hồi mô và quá trình hydrat hóa (hydration)

Hình 8-1 Salvage Pathways of Nucleic Acids Metabolism
Hình 8-1 Salvage Pathways of Nucleic Acids Metabolism

Cuối cùng là trường hợp kết hợp sử dụng hyaluronic acid, PDRN và nerotoxins. Cũng rất nhiều bác sĩ đang sử dụng phương pháp tiêm kết hợp cùng với nerotoxins nhưng với cá nhân tôi nếu có thể thì tôi thích phương pháp sử dụng ống tiêm riêng để tiêm riêng. Vì lý do botulinum toxin được biết dễ bị sốc vật lí khi pha loãng hoặc hít vào và có thể không được pha loãng đều trong HA.

Hình 8-2 3-D (3D) cấu trúc tổng hợp
Hình 8-2 3-D (3D) cấu trúc tổng hợp

Thế nên hãy cố gắng tránh pha loãng và trộn chung với các loại dung dịch tiêm khác. Thực tế quá trình tiêm căng bóng không cố định. Nhiều trường hợp bác sĩ linh động theo tình trạng hoặc triệu chứng của bệnh nhân. Dưới đây là một vài ví dụ.

Đầu tiên với các bệnh nhân dã từng điều trị kết hợp bằng HA, PDRN và nerotoxins với khoảng cách 1 tháng 3 lần. Lớp thượng bì thay đổi theo thời gian (Epidenna tum over time) mất khoảng 3-4 tuần vì là thời kì duy trì hiệu quả của mức độ thích hợp.”” Nhưng tùy tình huống gặp phải như tuổi tác, hormone, tình trạng sức khỏe và tình trạng da, stress…v.. .V.. .có sự khác biệt chu kì da (cycle) lớn Vì thế dựa theo tình trạng của bệnh nhân (20 tuổi 2-3 tuần đầu, 60 tuổi khoảng 2 tháng trư lên) cần điều chỉnh số lần và khoảng cách các lần làm thủ thuật. Ví dụ: Bệnh chàm da, dị ứng, da cực kì khô hoặc cháy nắng cấp độ 2 thường kiến nghị làm trên hai lần trong khoảng thời gian 2 tuần.Mục đích là cung cấp độ ẩm và giữ ấm tự nhiên, trường hợp một phần chức năng thượng bì bị tổn thương khi tiêm căng bóng kết hợp HA và PDRN cho ta thấy kết quả khá tốt hơn.

Ngoài ra, nhằm tránh để lại sẹo sau khi làm thủ thuật tiêm bằng HA và PDRN chúng ta có thể đưa ra phác đồ an toàn hơn với 5-6 lần trị liệu, khoảng cách giữa các lần khoảng 4-5 tuần và hãy tối thiểu hóa xâm lấn.

Bên cạnh liệu trình căng bóng, thói quen rửa mặt cũng rất quan trọng. Đặc biệt trong thời tiết khô như mùa đông với thói quen rửa mặt quá mức da thường bị tổn thương nhiều. Giống như một số quảng cáo mỹ phẩm nhấn mạnh với khách hàng rằng “làm sạch da quan trọng hơn việc sử dụng mỹ phẩm” hãy nhắc nhở bệnh nhân phải hiểu đúng điều này.

Tiêm căng bóng không phải là khái niệm học thuật chính thức như đã đề cập trước đó. Mặc dù nó chỉ dựa vào ý định của bác sĩ khi điều trị. Họ sử dụng cái tên này cho các kỹ thuật khác nhau nhưng các bác sĩ nghe tới từ “Mulwang- căng bóng” thì mỗi người đều hiểu và đối với từng người đều có điểm chung là dùng những loại thuốc cấp ẩm tốt, chất giữ nước, cấp ẩm vào da. Điểm chung là thúc đẩy quá trình hydrat hóa (hydration) trên da nên khái niệm “tiêm căng bóng” được thiết lập như một liệu pháp xâm lấn tối thiểu để giúp đỡ quá trình hydration hóa da.

Tài liệu tham khảo:

1. Stem R (2004). “Hyaluronan catabolism: a new metabolic pathway”. Eur. J. Cell Biol. 83 (7): 317-25. doi: 10.1078/0171-9335-00392. PMID 15503855.

2. Fraser JR, Laurent TC, Laurent UB ( 1997). “Hyaluronan: its nature, distribution, functions and turnover”. J. Intern. Med. 242 ( 1 ): 27-33. doi: 10.1046/j. 1365- 2796.1997.170. x. PMID 9260563.

3. Fraser JR, Laurent TC. Laurent UB (1997). “Hyaluronan: its nature, distribution, functions and turnover”. J. Intern. Med. 242 ( 1 ): 27-33. doi: 10.1046/j. 1365- 2796.1997.170. x. PMID 9260563.

4. Injectable fillers for volume replacement in the aging face. Greco TM, Antunes MB. Yell in SA

Facial Plast Surg. 2012 Feb; 28( 1 ):8-20.

5. Weinstein’s data (J Invest Dermatol 82: 623-628, 1984),

Xem thêm:

Tái tạo làn da bằng chất peel da

Hiểu và ứng dụng hiệu quả kỹ thuật tiêm dưỡng chất chất chống oxy hóa giúp cải thiện da

Cân nhắc những điểm cần lưu ý khi làm thủ thuật căng chỉ và Filler

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *